NHẬN DIỆN CÁC HIỆN TƯỢNG TÔN GIÁO MỚI PHẦN 2: Ngọc Phật Hồ Chí Minh

Đăng vào 18/02/2022
Ngọc Phật Hồ Chí Minh là “hiện tượng tôn giáo mới” nội sinh ở Việt Nam do bà Nguyễn Thị Lương (sinh ngày 15/9/1947 tại xã Tân Dân, huyện An Lão, Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 11, K8 Khu tập thể Khúc Trì, phường Ngọc Sơn, quận Kiến An) lập ra tháng 5/1991.

Bà Lương có trình độ văn hóa 10/10, tốt nghiệp trung cấp kế toán, sau đó làm kế toán trưỏng của Phòng Nhà đất thị xã Kiến An. Trước khi nghỉ hưu, bà Lương tùng là đảng viên, đội trưởng đội sản xuất thuộc Xí nghiệp Vịt cầu Sẽ, An Lão (từ tháng 10/1990). Đầu năm 1991, bà Lương bị bệnh nặng, nói năng nhảm nhí và được đưa về quê chồng ở Hiến Nam, tỉnh Hải Dương để chữa bệnh. Khi bệnh tình thuyên giảm, bà Lương quay về Kiến An và tung tin việc bà chữa khỏi bệnh là do được thần, Phật và “Bác Hồ cho ăn lộc” nên có khả năng chữa được các bệnh về tim, phổi, gan và có sứ mạng truyền bá đạo “Ngọc Phật Hồ Chí Minh”, hay đạo “Vỉ tình dân tộc”, còn gọi là đạo “Nghĩa tĩnh dãn tộc Cũng từ đó, bà Lương tự xưng là “Di đà giáng thế Nguyễn Thanh Minh Trong số những người đến chữa bệnh tại nhà bà Lương có cả cán bộ, nhân viên ở Trường sư phạm mẫu giáo Kiến An, hoặc là bộ đội đóng quân ở Quân khu III. Cách chữa bệnh của bà Lương chủ yếu là khấn, vái, gọi là “xin lệnh các ngài” rồi dùng đồng xu tẩm rượu cạo vào các khớp (theo kiểu cạo gió khi bị cảm). Những người được chữa bệnh thấy những việc làm có tính thần bí, dù không khỏi nhưng theo yêu cầu của bà Lương, họ đều phải ghi vào sổ là đã chữa khỏi bệnh. Sau đó khoảng 2 tháng, do sức khỏe yếu nên bà Lương không cạo gió nữa mà bắt đầu chuyển sang viết nhiều tài liệu theo kiểu văn vần (thơ lục bát) để tuyên truyền đạo và lợi dụng những mối quan hệ quen biết để sao chép, phát tán những tài liệu này trên địa bàn huyện An Lão, Kiến An, Hải Phòng. Những tài liệu của bà Lương có nội dung nhảm nhí, lộn xộn, kêu gọi lập bàn thờ Bác Hồ và thờ các anh hùng liệt sỹ, người có công với đất nước,... Các tài liệu này có in ảnh bà Lương và liên tục được bà Lương gửi đến lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam và nhiều cơ quan của Trung ương và lãnh đạo các quận, huyện, thị xã trong cả nước, trong đó Ban Tôn giáo Sở Nội vụ Hải Phòng cũng đã nhận được rất nhiều văn bản đề nghị xin được công nhận.

Qua nghiên cứu các tài liệu đó, có thể nhận thấy, tư tưởng chủ yếu trong lý thuyết đạo “Ngọc Phật Hồ Chí Minh” đã dần mang tính “hê thống”, tập trung trong “Hai mươi hai điêu ích nước lợi dân” và “Đạo luật Khuyên nghĩa nhân, đáp nghĩa, đền ơn và diệt trừ tệ nạn xã hội”, hay “Đạo luật Khuyên nghĩa nhân và đền ơn, đáp nghĩa để trời phật không gieo thiên tai trừng phạt xã hội loài người”, thực chất là sự “nâng cấp” của “Hai mươi hai điều ích nước lợi dân”.

về hình thức thờ cúng: Bàn thờ tại nhà bà Lương (thờ Tổ quốc và tiên tổ) gồm: Tượng Hồ Chí Minh ở giữa. Phía sau, ở trên tường, có treo cờ đỏ sao vàng (cờ Tổ quốc) và cờ đỏ búa liềm (cờ Đảng). Bên phải tượng Hồ Chí Minh có treo khung kính, bên trong có ghi: “Vua Hùng dựng nước, tám vua đuổi giặc giữ nước”. Bên trái tượng, có khung tính, trong đó có ghi: “Liệt sỹ muôn phương kiên cường đuổi giặc”.

Bàn thờ tại các gia đình riêng được đặt trong phòng khách, bên trên cùng treo ảnh Bác Hồ, bên phải treo cờ Tổ quốc, bên trái treo cờ Đảng, phía dưới là di ảnh người đấ khuất, 03 chén nước trắng, bát hương thờ tổ tiên và Bác Hồ.

Tại các gia đình riêng, không tố chức cúng lễ cho người đã chết. Việc cúng lễ bằng xôi, thịt, rượu, chè, vàng, mã, cơm, canh đều bị bãi bỏ. Khách đến nhà phải khoanh tay cúi chào, kính lễ nghiêm trang. Chủ nhà, trước khi ăn, trước khi ngủ, trước lúc đi xa, sau khi về nhà, phải cúi đầu kính lễ cho thật tử tế. Những ngày lễ chính trong năm vào ngày mùng một, rằm và các ngày lễ, Tết.

Bà Lương sáng tác thơ dạng văn vần có nội dung nhảm nhí, lộn xộn, kêu gọi lập bàn thờ Bác Hồ và thờ các anh hùng liệt sỹ, người có công với đất nước...Các tài liệu đó liên tục được bà Lương gửi đến lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban MTTQVN và nhiều cơ quan của Trung ương và lãnh đạo các quận, huyện, thị xã trong cả nước, trong đó Ban Tôn giáo Hả i Phòng cũng đã nhận được rất nhiều văn bản đề nghị xin được công nhận.

Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ các tài liệu đó có thể nhận thấy, tư tưởng chủ yếu trong lý thuyết đạo “Ngọc phật Hồ Chí Minh” đã dần mang tính “hệ thống”, tập trung trong “Hai mươi hai điều ích nước lợi dân”“Đạo luật Khuyên nghĩa nhân, đáp nghĩa, đền ơn và diệt trừ tệ nạn xã hội”, hay “Đạo luật Khuyên nghĩa nhân và đền ơn, đáp nghĩa để trời phật không gieo thiên tai trừng phạt xã hội loài người”.

Ngọc Phật Hồ Chí Minh, đến nay vẫn chưa hình thành tổ chức. Tuy nhiên, cũng đã hình thành mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa bà Lương với một sổ người ở Hải Phỏng Nguyễn Thị Chuộn, Trần Thị Dinh và Nguyễn Phú Nội, gia đình Bùi Thị Yen đều ở huyện An Lão, ông Nguyễn Văn Hướng ở xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên, ông Phạm Quang Khách ở Khu Lục Độ, thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải. Ngoài ra, bà Lương còn mở rộng quy mô tuyên truyền đạo ra một số địa phương khác và bước đầu đã xây dựng được một số “chân rết” quan trọng như Mai Ngọc Oánh, Đỗ Thị Hạt (tỉnh Nam Định), Tăng Thị Viễn, Trần Thị Lụa, Nguyễn Thị Xuyến, Phạm Thị Khoát (tỉnh Quảng Ninh), Phạm Thị Mừng (tỉnh Ninh Bình). Nhũng người vào hội của bà Lương phải điền vào mẫu đơn in sẵn do bà viết, sau đó ký tên mình và đọc cho mọi người cùng nghe. Hàng năm, mỗi hội viên phải đóng lệ phí 200.000 đồng. Những người đã trót vào hội của bà Lương đêu bị bà đe dọa: “đã vào hội thì không ai được bỏ, ai bỏ làm phản lại thầy, phản lại Phật, sẽ bị Phật đập chết và sinh ra ốm đau, tai họa

Phòng An ninh nội địa